Hợp đồng lao động điện tử

04/08/2021

“Điện tử” khoảng 10 năm về trước có thể chỉ được xem là sân chơi của khối “tư nhân tân tiến” thì ngày nay đã là xu thế phát triển của thời đại mọi hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội đang dịch chuyển sang “điện tử”.

Quan hệ giao dịch, việc làm cũng không thể nằm ngoài xu thế điện tử hóa và việc phát triển trong tương lai ắt hẳn cũng gắn với “điện tử”. Hợp đồng lao động điện tử đã ra đời để đáp ứng nhu cầu trong quan hệ giao dịch của người lao động và người sử dụng lao động.

Trong bài viết này, Megadoc xin làm rõ vấn đề liên quan đến Hợp đồng lao động điện tử và hiệu lực của hợp đồng điện tử đến quý khách hàng.

 

1 Ưu điểm của Hợp đồng lao động điện tử

- Kết nối và giao dịch một cách nhanh chóng, đặc biệt thuận lợi cho việc sử dụng lao động “xuyên biên giới” trong các ngành mà công việc không đòi hỏi sự hiện diện của người lao động tại một nơi làm việc cố định;

- Đảm bảo sự chính xác, hạn chế việc can thiệp vào dữ liệu;

- Giảm công việc hành chính cồng kềnh, giảm gánh nặng về không gian, cơ sở vật chất để lưu trữ, bảo quản hợp đồng và tài liệu;

- Tiết kiệm một khoản tài chính đáng kể liên quan đến việc in hợp đồng để ký và lưu trữ;

- Giúp cho việc quản lý nhân sự được thông minh, minh bạch hơn; việc truy xuất, sử dụng dữ liệu cũng thuận tiện hơn.

2 So sánh giữa hợp đồng lao động điện tử với hợp đồng bằng văn bản

Hợp đồng lao động điện tử về cơ bản giống với hợp đồng lao động bằng văn bản. Tuy vậy trong hợp đồng lao động điện tử sẽ có một số điểm khác biệt nhất định. Điểm khác biệt rõ ràng nhất là việc ký kết điện tử giữa người sử dụng lao động và người lao động.

- Thứ nhất, thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử. Theo Điều 10, Luật Giao dịch điện tử 2005 (Luật GDĐT 2005) “Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác.” thì được công nhận giá trị pháp lý

- Thứ hai, Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu và có giá trị pháp lý như bằng phương pháp truyền thống (Điều 33, 38 Luật GDĐT 2005).

- Thứ ba, về chữ ký điện tử, Điều 21 Luật GDĐT 2005 quy định:

+ Chữ ký điện tử được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký.

+ Chữ ký điện tử được xem là bảo đảm an toàn nếu chữ ký điện tử đó đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 22 của Luật này.

+ Chữ ký điện tử có thể được chứng thực bởi mộ tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử.

Trong các loại chữ ký điện tử, chữ ký điện tử dạng số được quy định chi tiết tại Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số. Chữ ký số được đăng ký theo quy định nên có thể xác minh dễ dàng hơn các dạng chữ ký điện tử còn lại.

- Thứ tư, Theo Điều 23, Luật GDĐT về nguyên tắc sử dụng chữ ký điện tử:

+Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, các bên tham gia giao dịch điện tử có quyền thỏa thuận:

a) Sử dụng hoặc không sử dụng chữ ký điện tử để ký thông điệp dữ liệu trong quá trình giao dịch;

b) Sử dụng hoặc không sử dụng chữ ký điện tử có chứng thực;

c) Lựa chọn tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử trong trường hợp thỏa thuận sử dụng chữ ký điện tử có chứng thực.

+ Chữ ký điện tử của cơ quan nhà nước phải được chứng thực bởi tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.

Như vậy hợp đồng lao động điện tử có giá trị pháp lý khi đảm bảo các yếu tố trên. Người lao động khi thực hiện ký kết hợp đồng lao động điện tử cần tìm hiểu kỹ về công ty mà mình ký kết, đặc biệt là kiểm tra về người đại diện pháp lý kí kết HĐLĐ với mình có đủ thẩm quyền hay không. Nên ưu tiên kí kết với đơn vị đã có chữ kí số sẽ đảm bảo an toàn hơn về quyền lợi của mình trong giao kết

3. Vai trò chủ động của người lao động

- Về phía cơ quan quản lý nhà nước: Sau khi Luật Giao dịch điện tử 2005 có hiệu lực, các cơ quan quản lý chuyên ngành đã ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện liên quan đến nhiều lĩnh vực như ngân hàng, thuế, kinh doanh thương mại, lưu trữ tài liệu điện tử.

- Về phía người sử dụng lao động: có thể được xem là chủ thể giữ vai trò chủ động trong “cuộc chơi đổi mới” này. Một trong những việc có thể tiến hành ngay là trang bị (nâng cấp) các thiết bị cơ bản như máy tính, phương tiện lưu trữ thông tin, hạ tầng kết nối Intetnet thông suốt và an toàn.

Đồng thời, cần lên kế hoạch thiết kế nền tảng ứng dụng về hợp đồng điện tử nói chung và hợp đồng lao động điện tử nói riêng áp dụng cho doanh nghiệp mình. Một phương án khác là doanh nghiệp có thể chờ một nền tảng chung được phát triển bởi bên thứ ba có thể là tổ chức cung cấp dịch vụ hoặc cơ quan quản lý trong tương lai.

- Về phía người lao động: Một bộ phận lớn hiện nay còn xa lạ với khái niệm “phương tiện điện tử”, “thông điệp dữ liệu”, chưa kể đến tâm lý chọn an toàn, ngại thay đổi hoặc khi bị bắt buộc thay đổi thì cũng không mặn mà tìm hiểu. Do vậy, việc phổ biến, nâng cao nhận thức và kỹ năng tương tác thông qua các phương tiện điện tử của người lao động ở mọi ngành nghề trên không gian mạng là tiền đề cho việc áp dụng hiệu quả hợp đồng lao động điện tử sau này.

Hãy đến với Megadoc, đội ngũ của chúng tôi sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về các loại hợp đồng phổ biến và có những tư vấn phù hợp cho doanh nghiệp của bạn.

Đơn vị vui lòng liên hệ ngay để được hỗ trợ SĐT Ms Trang Anh (0964246266)